Vì các file này là file dạng .cia (chỉ dành cho máy đã hack), không phải rom, nên bài post này mang tính chất lưu lại sau này thích lấy ra xem 😉
SNES: https://mega.nz/#F!2Rg0EKwS!YyVrNEePjylpZApWrvTy7A
GBA: https://mega.nz/#F!jUgTVIbB!vz2sAfd2hQOuFrjWFykCag
GBC: https://mega.nz/#F!ONhGESZR!S32PYSSJ-oQou19fq9FuKw
Thứ Bảy, 17 tháng 8, 2019
Có nên mua máy Nintendo Switch Lite hay máy Nintendo 2DS XL ?
Dạo gần đây đang mê em Pokemon Sword and Shield sắp ra mắt trong năm 2019, đồng thời cũng xuất hiện phiên bản giá rẻ của Switch là Switch Lite (Ông Nintendo rất biết cách hút cạn máu người dùng 😓)
Hình em Switch Lite đây ạ, dự kiến tháng 9/2019 bán, giá tại VN khoảng 5 triệu:
Còn đây là em Switch nguyên mẫu, đã ra lâu:
Mặc dù thừa nhận nếu so về đồ họa, còn lâu máy Switch mới bằng các hệ máy console khác như PlayStation, Xbox, tuy nhiên được cái giá rẻ hơn, kho game phong phú và có nhiều tựa game được làm RIÊNG cho Nintendo, ví dụ con át chủ bài Pokemon (đây cũng là tựa game có nhiều kỷ niệm trong đời mình), vẫn thích và muốn được chơi các phiên bản mới.
Hiện tại mình đang phân vân việc chơi trên máy Nintendo 2DS LL (không mua 3DS vì hay bị lag, tụi nước ngoài phàn nàn không ổn định, tính năng hiển thị 3D chưa thật sư cần thiết).
- Máy 2DS LL: 3.850.000 đ
- Máy 2DS: 2.000.000 đ
Hiện nay máy 2DS vẫn chơi được game Pokemon Ultra Sun/ Moon. Mặc dù hiện đang ra mắt dòng Pokemon Sword/ Shield cho thế hệ máy mới Switch Lite nhưng cũ người mới ta, game kia chưa chơi vẫn đáng mua :))
Một vài so sánh nhỏ giữa 3 hệ máy trước khi mua:
Điều mình hơi thất vọng sau khi tìm hiểu máy 2DS LL: máy không hiển thị 3D NHƯNG lại có thiết kế nắp gập, trước giờ mình rất dị ứng với thể loại nắp gập, dùng lâu ngày sẽ lỏng dây điện bên trong. Mặc dù có sự tiến bộ trong kỹ thuật nhưng mình vẫn không thích. Thêm điểm nữa đồ họa trên 2DS LL hiện không còn mượt như xưa. Thậm chí khi nhiều người thắc mắc tại sao không đưa game Pokemon Sun/ Moon lên Switch mà lại vẫn giữ trên 3DS/ 2DS, nhà phát triển cho biết muốn TẬN DỤNG TỐI ĐA sức mạnh của cỗ máy này. Tuy nhiên, trên quan điểm của mình, mình vẫn thích đồ họa trên Switch hơn. Chưa kể nhìn lên bảng thống kê trên thì phần thắng nghiêng về Switch Lite.
Giờ mình đang cân nhắc liệu còn đủ thời gian để chơi hay không nữa thôi, ka ka. Giờ có "đệ tử" rồi :D
Chủ Nhật, 4 tháng 8, 2019
| Sưu Tầm | Góc nhìn khác về bộ phim Sky Fall của 007
Lại một bài viết nữa mình sưu tầm. Vâng sưu tầm và chia sẻ để bản thân và mọi người đọc để có thêm góc nhìn mới về bộ phim "Sky Fall" của 007.
Make 007 Christian again!
Tại Istambul, Bond rượt theo tội phạm hòng lấy lại một ổ cứng chứa nhiều thông tin mật. Đồng sự Eve nổ súng theo lệnh M, không may trúng Bond, anh ngã xuống sông, mất tích. Ít lâu sau, MI6 bị đặt bom, thông tin trong ổ cứng bị public, tính mạng nhiều điệp viên gặp nguy hiểm, kẻ chủ mưu có vẻ là người trong tổ chức. Đúng lúc M bị ép nghỉ hưu và MI6 cần giải thể phân đội 00, Bond trở lại. Vào lúc MI6 có thể đã bị xâm nhập, Bond là người duy nhất M tin tưởng sẽ lần ra Silva, tay trùm cựu điệp viên từng có ân oán với bà.
Tôi viết về Skyfall chính nhờ có bạn khơi lại bài Batman Begins (Khi người dơi gặp Chúa), rồi nhớ lại xưa đã viết một ít về Skyfall, do thấy triology The Dark Knight và phim này hình như có gì giông giống. Nói về chuyện giống này, đạo diễn Sam Mendes trả lời phỏng vấn cũng đã thừa nhận Skyfall học tập The Dark Knight. Tuy thế khi xem vẫn thật thích thú khi phát hiện những tương đồng lẫn khác biệt của hai phim. Chính ở bài này, tôi sẽ phân tích những ẩn dụ cuả Skyfall và hai mặt trái ngược trên. À mà không phải bài này, sẽ là một chuỗi bài marathon về Skyfall, hy vọng có ai đi đến cùng được với tôi theo chủ đề này.
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
BOND IS NOT A FALLEN ANGEL. HE’S THE FALLEN ANGEL.
Ian Fleming vốn xây dựng 007 như kiểu mẫu của một hedonistic hero: Giết người như ngoé và thản nhiên không chùn tay, thích rượu và uống nhiều rượu nhưng không say, coi thường phụ nữ lẫn ngủ với rất nhiều phụ nữ, không bỏ qua phụ nữ có chồng nếu chưa nói “tôi thích nhất phụ nữ có chồng”. Chiểu theo Kito giáo, Bond phạm đủ tội để đừng nói thiên đường, địa ngục cũng vẫn hơi xa xỉ. Với các phóng túng đậm nét chủ nghĩa khoái lạc này, không khó để liên hệ 007 với hình tượng Lucifer trong Kinh Thánh. Nhưng chỉ đến Skyfall, thiên hướng xuyên suốt franchise ấy mới trở thành thông điệp.
Từ cái tên Skyfall – Trời sập đã có thể nhớ đến sự tích Heaven Fall aka The Fall of Angels, khi 1/3 số thiên thần trên thiên đường dưới sự lãnh đạo của Lucifer hợp nhau chống Chúa. Bond bị đồng đội bắn rơi xuống sông + bị cơ quan cũ là MI6 coi đã chết, tương đương Lucifer cũng bị chính một thiên thần khác - Michael đánh ngã xuống trần + từ đây hết đứng trong hàng ngũ bầy tôi của Chúa. Khi Bond trở về, câu đầu tiên M hỏi là “Where the hell have you been?”, anh đáp “Enjoying death” như một thông báo chua chát về chốn địa ngục từng sa xuống.
Song bằng chứng rõ nhất là ở phần pre-title sequence (pts). Mở đầu trường đoạn vốn để tổng kết diễn biến phim này, Bond từ trên cao rơi xuống làn nước xanh, phía dưới một phụ nữ đã chờ sẵn nắm tay anh và kéo xuống. Cảnh sau cô biến mất, chỉ thấy một bàn tay khổng lồ kỳ dị nhẹ nhàng túm chân Bond chạm đáy sông. Tại đây mặt đất sụt lún, mở ra một hố thẳm, Bond rơi tõm vào vùng đen ấy, biến mất.
Bên cạnh các liên hệ nhục cảm thường thấy trong phim Bond, cảnh trên còn là sự tiếp nối của 2 điển tích Kito: The Fall of Man, tội lỗi bắt nguồn từ Eve và khiến Adam bị Chúa đẩy xuống mặt đất; rồi The Fall of Lucifer, Lucifer sau khi ngã xuống đất tiếp tục bị cái ác trong tâm xâm chiếm và tụt xuống xuống địa ngục.
Ở bài Batman begins phần 1, có người từng hỏi tôi câu này: Ơ Bat là Lucifer thì Joker là ai? Với Bond cũng có câu tương tự: Nếu chính diện đã là Lucifer, phản diện sẽ còn là gì nữa?
----------------------------------------------------------------------------------------
AS ANTI-CLIMATICAL AS IT SOUNDS, SILVA IS LUCIFER, TOO
M từng nói với Mallory về Silva: “kẻ ấy là một trong số chúng ta, hắn đến từ cùng một nơi như Bond, nơi mà ông bảo là không tồn tại”.
Giống Bond, Silva cũng từng là một thiên thần/điệp viên, ở chốn địa đàng/MI6, phục vụ Chúa/M. Hắn còn “là điệp viên cưng của bà ta”, như Lucifer là “vị thiên thần đẹp nhất trong tất cả các thiên thần”.
Lucifer mang tóc vàng, vốn là một thiên thần đẹp đẽ nhưng sau khi rơi xuống đất thì ngoại hình bị thay đổi. Silva cũng mang tóc vàng, một bộ tóc giả tạo đặc biệt nó bắt ta phải để ý ngay từ khi nhân vật này xuất hiện. Sau khi Silva khi bị bắt, nuốt cyanide để tự tử mà không chết, thì khuôn mặt hắn bị biến dạng, tạo nên chân dung vừa đáng kinh sợ vừa đầy đau khổ y như lúc Lucifer bị hoá hình thành quỷ.
Mấu chốt là, tay cựu điệp viên này cũng đã băng hoại từ Thiện sang Ác. Hắn đã đổi tên Tiago Rodriguez thành Silva, y như cách Lucifer tự đổi tên mình từ Sao mai (Lucifer có hiệu trong tiếng Anh là Morning Star – Sao Mai, ngôi sao sáng nhất buổi sớm) trở thành Kẻ đối đầu (Satan tiếng Hebrew nghĩa là The adversary), mà sự tự đổi tên vốn là một chỉ định ẩn dụ thường thấy cho sự biến đổi về bản chất - transformation. Thực thế, Silva trong phim đã từ vị trí một điệp viên chọn trở thành một kẻ khủng bố vô chính phủ, gieo rắc hỗn loạn để làm vui. Chi tiết Silva “thích hòn đảo này nên hắn chiếm lấy nó” cũng tương ứng trong Kinh Thánh, Satan cũng chiếm lấy địa ngục và xây dựng ở đây một vương quốc riêng, đối lập với vương quốc địa đàng cũ hắn từng phục vụ -- vừa là MI6 của M, vừa ngụ ý hòn đảo quá khứ Silva từng kể “Bà tao từng có một hòn đảo. Thật ra chả có gì đáng nói. Nhưng hồi ấy với chúng tao nó vẫn là thiên đường.”
Một bộ phim hẳn nhiên không cho phép tồn tại 2 nhân vật có vai trò y hệt. Trong The Dark Knight, Batman và Joker cũng cùng mang đặc điểm Lucifer, song ta vẫn biết họ không thể cùng chiến tuyến, đó là 2 số phận tưởng gắn bó như song sinh bởi kẻ này cần kẻ kia để có lý do tồn tại, song có một khác biệt nào đó đã tách đôi hai người để kết cục kẻ này sẽ kết liễu kẻ kia. Kịch bản Skyfall đã diễn biến đúng như vậy.
--------------------------------------------------------------------------------
AS PARADOXICAL AS IT SOUNDS, BOND ALSO IS JESUS.
Lần đầu gặp, Silva kể cho Bond câu chuyện về đàn chuột trên đảo “Người ta dùng một cái thùng đựng dừa để bẫy chuột. Nhưng khi thùng đầy chuột họ không vứt xuống biển, chỉ đóng nắp lại. Rồi lũ chuột ở trong sẽ bắt đầu ăn thịt nhau. Đến khi chỉ còn 2 con, họ mở nắp và thả chúng ra. Lúc này chúng không ăn dừa nữa, chúng chỉ ăn chuột. Bản chất của chúng đã bị thay đổi. 2 kẻ sống sót cuối cùng đó là cái bà ta đã tạo ra từ mày và tao.” Hắn kết luận, “Mày vẫn còn bám vào niềm tin với bà ta sao. Tất cả những gì bà ta làm là dối mày”.
Nhưng sau bao lời xúc xiểm về Chúa M của tay Satan Silva ấy, Bond vẫn thản nhiên đáp “không, tao đã tự ra quyết định cho mình”. Chính thái độ đó làm nên khác biệt giữa Bond và Silva. Dù cũng suýt chết và từng trách cứ M, đến cuối ngày, Bond vẫn tự nhận trách nhiệm về mọi điều xảy đến, điều đó đã giải thoát anh khỏi bị nỗi ấm ức kia nhấn chìm, căm hận M, căm ghét thế giới, và biến thành ác quỷ.
Như vậy Bond sẽ không thể là Satan, dù cho có ở cùng hoàn cảnh. Bond sẽ gần giống Adam aka đại diện cho loài người, từng sa ngã, vẫn có khả năng tiếp tục sa ngã, luôn bị Satan dụ dỗ, song cũng vẫn còn cơ hội cứu rỗi và cuối cùng vẫn tìm đến Chúa. Hướng mới này phù hợp với sự kiện Severine sau đêm ân ái với Bond, đã dẫn anh đến nạp mạng với Satan Silva tại hòn đảo – Địa ngục của hắn, y như Eve nghe lời rắn dụ Adam ăn táo và cả hai rơi khỏi địa đàng xuống mặt đất. Lưu ý, Bond không hề bị ép buộc nạp mạng, anh chủ động làm thế, bởi vì nhờ vậy anh lại bắt được Silva rồi tự giải thoát.
Nhưng Bond không chỉ tự cứu, anh sẽ còn lần lượt cứu M, cứu MI6, và nhân loại, giúp cả ba thoát khỏi hiểm hoạ một tay khủng bố đang muốn nhìn thế giới bốc cháy. Các diễn biến chung cuộc này cộng với ví von “2 kẻ sống sót cuối cùng” thực ra đủ để xếp Bond là phản đề của Silva, aka nếu Silva là Satan thì Bond phải là Jesus cứu chuộc cho cả loài người. Nhưng nếu dựa vào đối kháng chính diện phản diện hiển nhiên đó thì có lẽ hơi thường quá, nên Skyfall còn cài cắm vài tham chiếu rõ ràng hơn đến Kinh Thánh.
Khi được hỏi “sở thích của mày là gì”, Bond nhếch mép “Phục sinh”, một liên hệ hẳn nhiên đến Christ. Trở về sau khi bị bắn rơi tưởng chết chính là lúc Bond phục sinh. Như sẽ nói rõ hơn ở bài sau, cái chết này và sự phục sinh này cũng không phải là về mặt vật lý. Kinh Thánh nói người đầu tiên phát hiện ra sự phục sinh của Jesus là một phụ nữ - Magalene. Khi Bond quay về, dù các kết quả kiểm tra đều cho kết quả ngược lại, chỉ duy nhất một người vẫn tin vào năng lực của anh, aka tin 007 chưa thực sự chết, cũng là một phụ nữ: M.
Tiếp đó, khi Silva tìm đến nhà nguyện gần nhà Bond khi bé, hắn đứng trước một ngôi mộ đôi, đó là nơi bố mẹ Bond an nghỉ. Cảnh này dừng khá lâu, đủ để khán giả đọc rõ tên 2 người:
Bố James Bond tên là Andrew Bond. Nếu ai còn nhớ thì trong phim Ma Trận, Người-được-chọn Neo có tên thật ngoài đời là Thomas Anderson. Anderson đồng âm với Andersson = Anders’ Son = Son of Anders. Neo, từ chi tiết này và hai tỷ chi tiết khác của Ma Trận, có thể suy ra chính là ẩn dụ cho Jesus Christ. Và Bond cũng đóng vai trò y hệt vậy khi là Son of Andrew. Bởi vì Anders của Neo cùng Andrew của Bond đều chung gốc tiếng Hy Lạp dịch sang tiếng Anh là “Man”. Và một trong các biệt hiệu quan trọng của Jesus Christ chính là: The Son of Man. Vầy còn mẹ Bond thì sao? Monique de la Croix , một cái tên Pháp dù bà người Thuỵ Sĩ. Nghĩa gốc Monique từ tiếng Hy Lạp dịch sang tiếng Anh sẽ là Madonna. Monique de la Croix tiếp đó dịch tiếng Pháp sang tiếng Anh sẽ là: Madonna of the Cross – Đức mẹ của thập giá. Oops!
2 bằng chứng trên vốn đã quá đủ, song never two without three nên chúng ta sẽ bàn nốt một chi tiết nữa: Mã điệp viên của Bond là 007.
Và chúng ta nhớ gì về số 7 ở bài Batman Begins nào? Theo Kito giáo, 7 là số hoàn hảo, số linh thiêng. Bởi Chúa tạo ra thế giới trong 6 ngày và nghỉ vào ngày thứ 7 là ngày Chúa Nhật – Chủ Nhật. Cũng chính thế 6 là số không hoàn hảo (hơi ngược toán học) và do đó có thể gắn với ma quỷ. Kết quả, 777 là đại diện cho Holy Trinity và 666 đại diện cho Satan.
Và như vậy ta thấy, không chỉ từ Skyfall, mà ngay trong tiểu thuyết gốc, thời điểm chọn con số 007 và tên bố mẹ Bond như trên, tiểu thuyết gia Ian Flemming cũng đã có ý niệm Bond ẩn ý cho Jesus Christ. Dù với nhà văn này tôi ngờ rằng đó cũng chỉ là một trò bỡn cợt kiểu private joke. Thành tựu của Skyfall là đi từ cái hint nguyên thuỷ nhỏ bé trong tiểu thuyết ấy để xây dựng hẳn một chủ đề.
------------------------------------------
Hay quá phải không mọi người? :D
| TOY | THE GUNPLA FACTORY -BANDAI HOBBY CENTER- Promotional Video
Tự nhiên hôm nay hứng lên xem video về nhà máy Gunpla (còn gọi là robo Gundam), thấy mê quá, chia sẻ lên mọi người xem nhé:
https://www.youtube.com/watch?v=yVHI7nKMqlE
Xem thêm về Gundam Worldcup đoạt giải năm 2017 tại Hong Kong:
https://www.youtube.com/watch?v=CmajMim_Gec
Thứ Bảy, 3 tháng 8, 2019
| Sưu tầm | CÁC PHÍM TẮT TRONG PHOTOSHOP
Mình sưu tầm trên mạng hy vọng sẽ có ích cho mọi người.
CÁC PHÍM TẮT HỖ TRỢ THAO TÁC VỚI FILE VĂN BẢN:
Code:
CTRL + N = Hỗ trợ tạo File mới
CTRL + O = Mở File có sẵn trên máy tính
CTRL + ALT + O = Mở file từ Adobe Bridge
CTRL + P = In ảnh
CTRL + ALT + S = Lưu thêm 1 bản copy
CTRL + W = Đóng File
CTRL + S = Lưu File
CTRL + SHIFT + S = Lưu File với các dạng khác
CÁC LỆNH SELECT BẠN CẦN NẮM ĐƯỢC:
Code:
CTRL + A = Chọn tất cả, bôi đen tất cả
CTRL + F = Lặp lại Filter cuối cùng
CTRL + D = Bỏ vùng chọn
CTRL + ALT + D = Mờ biên vùng chọn
CTRL + SHIFT + D = Chọn lại vùng chọn
CTRL + SHIFT + I = Đảo ngược vùng chọn
CTRL + SHIFT + F = Chỉnh Opacity Brush
THAO TÁC VỚI LAYER:
Code:
CTRL + SHIFT + N = Tạo một Layer mới
CTRL + G = Tạo nhóm Layer
CTRL + SHIFT + G = Bỏ nhóm Layer
CTRL + J = Nhân đôi Layer
CTRL + SHIFT + J = Cắt Layer
CTRL + SHIFT + ] = Chuyển Layer lên trên cùng
CTRL + SHIFT + [ = Chuyển Layer xuống dưới cùng
CTRL + ] = Chuyển Layer lên trên
CTRL + [ = Chuyển Layer xuống dưới
CTRL + E = Ghép các Layer được chọn
CTRL + SHIFT + E = Ghép tất cả các Layer
CÁC PHÍM TẮT VỚI NHÓM IMAGE:
Code:
CTRL + M = Bảng Curves
CTRL + B = Bảng Color Blance
CTRL + U = Bảng Hue/Saturation
CTRL + L = Bảng Levels
CTRL + I = Bảng Invert
CTRL + SHIFT + L = Tự động chỉnh Levels
CTRL + ALT + SHIFT + L = Tự động chỉnh Contrast
CTRL + SHIFT + U = Bảng Desaturate
SỬ DỤNG CÁC PHÍM TẮT VỚI NHÓM LỆNH EDIT:
Code:
[ = Phóng to nét bút
] = Thu nhỏ nét bút
CTRL + X = Cắt
CTRL + C = Copy (Sao chép)
CTRL + SHIFT + C = Copy Merged
CTRL + Z = Trở lại bước vừa làm
CTRL + ALT + Z = Trở lại nhiều bước
CTRL + V = Paste (Dán)
CTRL + SHIFT + CTRL + V = Dán chồng lên
CTRL + T = Xoay hình / Chỉnh ti lệ
CTRL + SHIFT + T = Làm lại bước Free Transform
SỬ DỤNG PHÍM TẮT VỚI VIEW:
Code:
CTRL + Y = Xem màu CMYK
CTRL + SHIFT + Y = Xem gam màu ngoài hệ CMYK
CTRL + 0 = Xem hình tràn màn hình
CTRL + R = Hiện thước
CTRL + ; = Ẩn Guides
CTRL + “ = Hiện lưới
CTRL + + = Phóng to
CTRL + - = Thu nhỏ
CTRL + SHIFT + H = Ẩn các đường Path
CTRL + SHIFT + ; = Nhẩy bằng Guides
CTRL + ALT + ; = Khoá Guides
CTRL + SHIFT + ‘ = Nhẩy bằng lưới
NHÓM PHÍM TẮT CÔNG CỤ CHỈNH SỬA (TOOLBAR):
Code:
A = Chọn đường Path . Vector
B = Nét bút
C = Cắt hình
D = Quay về màu cơ bản ban đầu
E = Tẩy
G = Đổ màu/Đổ màu chuyển
. = Mô tả hiện tường miết tay
H = Hand Tool
I = Chấm màu . Thước kẻ
J = Chấm sửa chỗ chưa hoàn chỉnh
L = Tạo vùng chọn tự do
M = Tạo vùng chọn
O = Làm tối ảnh
P = Tạo đường path . vector
S = Lấy mẫu từ 1 ảnh
T = Viết chữ
U = Vẽ các hình cơ bản
V = Di chuyển
X = Đổi màu trên bảng màu
Y = Gọi lại thông số cũ của ảnh
Z = Phóng to / thu nhỏ hình ảnh
W = Tạo vùng chọn theo màu
& = Đổi màu trên bảng mà
TÁC DỤNG CỦA CÁC PHÍM TẮT TỪ F1 ĐẾN F9:
Code:
F1 = Xem hướng dẫn từ nhà phát hành
F2 = Cut
F3 = Copy (Sao chép)
F4 = Paste (Dán)
F5 = Mở Pallete Brush
F6 = Mở Pallete màu
F7 = Mở Pallete Layer
F8 = Mở Pallete Info
F9 = Mở Pallete Action
CÁC PHÍM TẮT HỖ TRỢ THAO TÁC VỚI FILE VĂN BẢN:
Code:
CTRL + N = Hỗ trợ tạo File mới
CTRL + O = Mở File có sẵn trên máy tính
CTRL + ALT + O = Mở file từ Adobe Bridge
CTRL + P = In ảnh
CTRL + ALT + S = Lưu thêm 1 bản copy
CTRL + W = Đóng File
CTRL + S = Lưu File
CTRL + SHIFT + S = Lưu File với các dạng khác
CÁC LỆNH SELECT BẠN CẦN NẮM ĐƯỢC:
Code:
CTRL + A = Chọn tất cả, bôi đen tất cả
CTRL + F = Lặp lại Filter cuối cùng
CTRL + D = Bỏ vùng chọn
CTRL + ALT + D = Mờ biên vùng chọn
CTRL + SHIFT + D = Chọn lại vùng chọn
CTRL + SHIFT + I = Đảo ngược vùng chọn
CTRL + SHIFT + F = Chỉnh Opacity Brush
THAO TÁC VỚI LAYER:
Code:
CTRL + SHIFT + N = Tạo một Layer mới
CTRL + G = Tạo nhóm Layer
CTRL + SHIFT + G = Bỏ nhóm Layer
CTRL + J = Nhân đôi Layer
CTRL + SHIFT + J = Cắt Layer
CTRL + SHIFT + ] = Chuyển Layer lên trên cùng
CTRL + SHIFT + [ = Chuyển Layer xuống dưới cùng
CTRL + ] = Chuyển Layer lên trên
CTRL + [ = Chuyển Layer xuống dưới
CTRL + E = Ghép các Layer được chọn
CTRL + SHIFT + E = Ghép tất cả các Layer
CÁC PHÍM TẮT VỚI NHÓM IMAGE:
Code:
CTRL + M = Bảng Curves
CTRL + B = Bảng Color Blance
CTRL + U = Bảng Hue/Saturation
CTRL + L = Bảng Levels
CTRL + I = Bảng Invert
CTRL + SHIFT + L = Tự động chỉnh Levels
CTRL + ALT + SHIFT + L = Tự động chỉnh Contrast
CTRL + SHIFT + U = Bảng Desaturate
SỬ DỤNG CÁC PHÍM TẮT VỚI NHÓM LỆNH EDIT:
Code:
[ = Phóng to nét bút
] = Thu nhỏ nét bút
CTRL + X = Cắt
CTRL + C = Copy (Sao chép)
CTRL + SHIFT + C = Copy Merged
CTRL + Z = Trở lại bước vừa làm
CTRL + ALT + Z = Trở lại nhiều bước
CTRL + V = Paste (Dán)
CTRL + SHIFT + CTRL + V = Dán chồng lên
CTRL + T = Xoay hình / Chỉnh ti lệ
CTRL + SHIFT + T = Làm lại bước Free Transform
SỬ DỤNG PHÍM TẮT VỚI VIEW:
Code:
CTRL + Y = Xem màu CMYK
CTRL + SHIFT + Y = Xem gam màu ngoài hệ CMYK
CTRL + 0 = Xem hình tràn màn hình
CTRL + R = Hiện thước
CTRL + ; = Ẩn Guides
CTRL + “ = Hiện lưới
CTRL + + = Phóng to
CTRL + - = Thu nhỏ
CTRL + SHIFT + H = Ẩn các đường Path
CTRL + SHIFT + ; = Nhẩy bằng Guides
CTRL + ALT + ; = Khoá Guides
CTRL + SHIFT + ‘ = Nhẩy bằng lưới
NHÓM PHÍM TẮT CÔNG CỤ CHỈNH SỬA (TOOLBAR):
Code:
A = Chọn đường Path . Vector
B = Nét bút
C = Cắt hình
D = Quay về màu cơ bản ban đầu
E = Tẩy
G = Đổ màu/Đổ màu chuyển
. = Mô tả hiện tường miết tay
H = Hand Tool
I = Chấm màu . Thước kẻ
J = Chấm sửa chỗ chưa hoàn chỉnh
L = Tạo vùng chọn tự do
M = Tạo vùng chọn
O = Làm tối ảnh
P = Tạo đường path . vector
S = Lấy mẫu từ 1 ảnh
T = Viết chữ
U = Vẽ các hình cơ bản
V = Di chuyển
X = Đổi màu trên bảng màu
Y = Gọi lại thông số cũ của ảnh
Z = Phóng to / thu nhỏ hình ảnh
W = Tạo vùng chọn theo màu
& = Đổi màu trên bảng mà
TÁC DỤNG CỦA CÁC PHÍM TẮT TỪ F1 ĐẾN F9:
Code:
F1 = Xem hướng dẫn từ nhà phát hành
F2 = Cut
F3 = Copy (Sao chép)
F4 = Paste (Dán)
F5 = Mở Pallete Brush
F6 = Mở Pallete màu
F7 = Mở Pallete Layer
F8 = Mở Pallete Info
F9 = Mở Pallete Action
Thứ Sáu, 2 tháng 8, 2019
| Sưu tầm | Chúa quỷ và các biến thể trong vũ trụ Marvel
Bài viết dưới đây mình sưu tầm do thấy hay, sợ mốt mất đường link:
I. NGUỒN GỐC:
I. NGUỒN GỐC:
Trong Marvel, vai trò của Quỷ là rất lớn và ảnh hưởng trực tiếp đến nhiều sự kiện tầm cỡ đa vũ trụ (điển hình như bộ phim Doctor Strange in the Multiverse of Madness sắp tới đã được xác nhận rằng chúa quỷ Nightmare là phản diện chính).
Vậy nguồn gốc, sức mạnh và cách phân loại quỷ trong Marvel là như nào ?
Khi không - thời gian còn chưa xuất hiện và Đa Vũ Trụ cũng chưa được kiến tạo, chỉ có một thực thể “toàn năng" mang tên Nemesis. Cô đơn đến tột cùng, Nemesis đã tạo ra những sinh vật đầu tiên trong vũ trụ để bầu bạn. Tuy nhiên, do khái niệm "tốt – xấu" chưa tồn tại nên những tạo vật này sa ngã và biến chất thành quỷ khiến cho Nemesis vô cùng thất vọng. Kết cục của chúng là bị bà ta xóa sổ ngay tức khắc. Để rồi một ngày, Nemesis quyết định hy sinh tạo ra vụ nổ Big Bang, kiến tạo Đa Vũ Trụ và đem cho vạn vật sáu viên Infinity Stone. Việc này khiến loài quỷ hồi sinh và bắt đầu tung hoành trong Vũ Trụ Mới.
Tuy nhiên, với những retcon thì câu chuyện của Nemesis đã bị xoá bỏ. Theo bộ truyện mới History Of Marvel Unverse, hai con quỷ đầu tiên của vũ trụ Marvel là Cổ Thần Chthon & Beast, con quái vật mà băng ninja The Hand thờ phụng.
II. Phân loại
Có ba loại ác quỷ khác nhau, loại 1 là những Cổ Thần sa ngã mà phần trước đã đề cập, Loại 2 gồm Hell-Lords (cùng những thuộc hạ của chúng), Loại 3 là quỷ từ chiều không gian khác thâm nhập vào như Dormammu.
1. Loại 1: - Những Cựu Thần sa ngã do thèm khát sức mạnh, điển hình như Chthon, Set và Demorgorge
2. Loại 2
- Tuy Demorgorge đã giết sạch Cổ Thần biến chất nhưng năng lượng hắc ám vẫn còn sót lại. Kết hợp với đức tin của con người, sức mạnh này đã biến thành những chúa quỷ như Mephisto, Thog, Satan (Marduk Kurios), Baphomet, Murray, … Lũ quỷ này tập hợp thành Hell-Lords, mỗi tên đều điều khiển lãnh địa riêng của mình và gần như toàn năng trong lãnh địa đó (tuy nhiên, những thực thể như Pluto hay Hela hoặc Dormammu vẫn được gia nhập Hell-Lords như bình thường).
- Đám Thiên Thần Sa Ngã chống lại Chúa như Lucifer, Asmodeus, Beelzebub, Olivier và Stoker.
- Đám đệ Hell-Lords, như Six-Fingered Hand hoặc Zarathos (nguồn sức mạnh của Ghost Rider) và vô số quỷ thần khác.
3. Loại 3
- Đây là thực thể ngoài không gian và giống người ngoài hành tinh hơn là đám quỷ được nhào nặn từ đức tin của con người.
Những thực thể này được lấy cảm hứng từ tiểu thuyết Lovecraft, bao gồm Asteroth, Azotharoth, thần bóng tối của R'Lyeh, Erlik Khan, Ghaszaszh Nyrih, Gol-Goroth, Kathulos, Lloigoroth, N'Gabthoth, Niggurab, Shub-Niggurath, Tsathoggua Yog-Sokkot, Yog-Sothoth, Slorioth và Shuma-Gorath, …
Đây là Old Ones - những chúa quỷ sống trong khoảng trống giữa vô hạn vũ trụ với mục tiêu xâm chiếm. Cancerverse trong sự kiện Thanos Imperative cũng là do hội này gây ra. Chúng tồn tại từ trước khi vũ trụ được hình thành và gần như bất tử.
- Đám Mindless Ones, Undying Ones, hai anh em Dormammu và Umar của tộc người Faltine, vô số tộc quỷ ngoài hành tinh khác, …
- Hội Octenssence, đối trọng của Vishanti và là một trong những Hội Phép Thuật mạnh nhất Marvel. Bao gồm Cyttorak, Balthakk, Farallah, Ikonn, Krakkan, Raggadorr, Valtorr và Watoomb.
Tính từ trái qua phải, bắt đầu từ: con màu đỏ Cyttorak, Balthakk, Ikonn, Raggadorr, Watoomb, Valtorr, Krakkan, Farallah
- Hội Fear Lords – bảy con ác quỷ ngoài không gian sinh sống và lấy sức mạnh từ nỗi sợ của loài người. Bao gồm D'Spayre, Straw Man, Kkallakku, Lurking Unknown, Nightmare, Nox và trưởng nhóm là Dweller-of-Darkness. Không thấy nhắc đến Dusk, chúa tể của Realm of Madness.
III. Sức mạnh và cách thức hoạt động
Đối với Loại 2 nói chung, mỗi cá thể mạnh đều có một lãnh địa riêng cho mình và gần như toàn năng ở đó. Những Hell-Lords mạnh lên nhờ linh hồn dạt vào lãnh địa của họ, đám lãnh chúa này tự nhận lãnh địa mình là Địa Ngục thực sự và đều mang danh Satan để lừa người sống và bắt họ bằng những điều khoản khác nhau (Mephisto với Ghost Rider là một trường hợp).
Nếu một người Trái Đất chết, linh hồn họ sẽ được bay lên Thiên Đàng hoặc White Hot Room và gặp Death. Nếu một người Asgard chết, họ sẽ lên thiên đàng Vallhala hoặc xuống Hel của Hela. Nếu một người Hy Lạp chết, họ sẽ bay lên Elysium hoặc xuống với Hades. Kiếp sau dựa trên đức tin của người sống và tương tự như vậy đối với các lãnh địa cũng như chúa quỷ khác.
Nhắc đến sức mạnh thì những con quỷ tiêu biểu như Mephisto đã từng suýt nữa hủy diệt ba cái vũ trụ cùng lúc trong khi đánh nhau với Satannish hay đập nhau ngang cơ với Galactus đói trong lãnh địa của hắn.
“Trận chiến giữa Mephisto và Galactus đã thiêu đốt vô số Dải Ngân Hà; và nếu cuộc so tài này tiếp diễn thì đó sẽ là hồi kết cho toàn bộ Vũ Trụ“ - Silver Surfer
Đối với Loại 3, bọn họ không phải phụ thuộc vào Linh Hồn nhiều như Hell-Lords mà nhờ Ma Thuật Hắc Ám. Có những Old Ones chỉ mạnh ngang ngửa Nova hay Thor, nhưng cũng có chúa quỷ như Dormammu có thể hủy diệt vô số vũ trụ, mạnh hơn Nightmare, đánh cầm chừng Eternity-616 trong lãnh địa của hắn hay Shuma-Gorath, nguồn ma thuật lớn nhất Marvel và mang sức mạnh để tái khởi động vụ nổ Big Bang rồi sinh ra vạn vật.
Dormammu cả gan đối đầu với Eternity (Vũ Trụ Sống) trong chính lãnh địa của hắn – Strange Tales
Hay Fear-Lords, những con quỷ sống và lấy sức mạnh trên nỗi sợ của loài người. Tuy thực lực của đám này trong Realm nhỉnh hơn cả Cổ Thần Atum nhưng do phụ thuộc quá nhiều vào phàm nhân nên rất dễ bị nắm thóp (điển hình như trong Fear Itself, Cul Borson hấp thụ toàn bộ nỗi sợ trên Trái Đất và Chín Cõi khiến cho Fear-Lords suy yếu và thậm chí Dweller-of-Darkness còn bị đánh bại bởi chúa quỷ hạng 2 như Mephisto).
Mạnh nhất trong Loại 3 có lẽ là Hội Octenssence – những Quỷ Thần ngoài không gian và là nguồn ma thuật của vô số pháp sư trong Vũ Trụ. Đây là những thực thể tồn tại ngoài không – thời gian và bơm năng lượng cho bảo bối ma thuật của Doctor Strange như Wand of Watoomb hay Crimson Band of Cyttorak đồng thời cũng là “sếp“ của đội Examplars với thành viên nổi tiếng nhất là Juggernaut.
Mấy ông Quỷ Thần này khá là ganh đua và ghen ghét nhau, nên họ mới tạo ra những bảo vật để đi tìm đệ trên Trái Đất với mục đích là gia tăng danh tiếng cũng như phô trương quyền lực cho cả đa vũ trụ (đến Doctor Strange hay Dormammu cũng phải mượn sức mạnh từ mấy ông này).
Cyttorak – Nguồn sức mạnh của tên phản diện “ không thể cản phá “ Juggernaut trong phim Deadpool 2
Tuy nhiên có một điểm chung giữa ba loại quỷ, đó là những lãnh địa này giao nhau tại Devil’s Advocacy. Nơi đây tồn tại ngai vàng của Satan – một báu vật mà chỉ có con quỷ mạnh nhất mới có thể ngồi vào. Bất cứ ai không xứng đáng mà dám chiếm hữu sẽ bị đánh bật bởi toàn bộ quỷ trong Địa Ngục. Quyền lực của người ngồi trên ngai là điều khiển toàn bộ lãnh địa của những chúa tể khác (Shuma-Gorath, Dormammu, Cyttorak, … đều đến tranh cử mà không ai dám ngồi).
Điều này xảy ra vì họ chỉ mạnh nhất trong lãnh địa riêng, mà Devil’s Advocacy lại là nơi giao nhau và trung hòa nên sức mạnh bị yếu đi nhiều. Chỉ có Mephisto là suýt thành công khi mang trong mình vương miện của Nỗi Sợ, lợi dụng thời thế khi Cul Borson làm suy yếu quỷ dữ và bắt Fear-Lords làm bảo vệ cho mình.
Devil’s Advocacy – Nơi tụ hợp của các “anh tài quỷ dữ“ từ khắp Đa Vũ Trụ đổ về để được ngồi lên Ngai Vàng Satan, thống trị tất cả
Kẻ ngồi ở ngôi này hiện đang được cho là One Below All, đối trọng của One Above All, hiện thân của gamma và là chủ nhân của Địa Ngục tối cao mang tên Below. Tuy nhiên, One Below All cũng không phải toàn năng, hắn từng sơ hở mà khiến Absorbing Man hấp thụ trực tiếp sức mạnh và bị đẩy lui bởi Hulk, sau khi được bơm nguồn sức mạnh đó.
Những Chúa Quỷ cũng bị giới hạn bởi những luật lệ mà ngay cả Mephisto hay Dormammu cũng không thoát được. Ví dụ như mặc dù có sức mạnh hủy diệt vũ trụ nhưng họ không thể bắt linh hồn của một phàm nhân bằng sát thương vật lý hay hack não. Bọn này có thể lừa lọc, chơi đểu nhưng không được phép tác động trực tiếp vào loài người (thế nên chúng mới cần đệ và quỷ để làm việc vặt trên trần gian), còn những trò lừa lọc của Mephisto và đám quỷ như nào thì cứ nhìn Ghost Rider là ra ngay.
Có những kẻ khác thì không được phép rời lãnh địa của mình do luật lệ cổ xưa, như Lucifer chẳng hạn; hoặc mạnh quá mà đi vào Đa Vũ Trụ là nổ tung mọi thứ rồi bị giới thực thể "hội đồng" như trường hợp của Shuma-Gorath phải dùng “bản thể” để xâm nhập vũ trụ.
Có thể thấy, bên Marvel khá phức tạp, chẳng như DC/Vertigo một mình Lucifer một lãnh địa không ai dám xâm phạm.
P/S: Doctor Strange bản gốc có thể đánh bại Nightmare trong chính lãnh địa của hắn chỉ bằng một chưởng và với quyền năng ngang ngửa đám quỷ Loại 3 mạnh nhất, đến mức hắn còn là chìa khóa chủ lực để Vishanti đánh bại Trinity of Ashes trong War of the Seven Spheres – cuộc chiến chia rẽ thế giới ma thuật thành hai phe kéo dài suốt 5000 năm gồm Watoomb, Ikonn, Cyttorak, Seraphim, Vishanti, The Faltine, Raggadorr, Munnopor, Satannish, Valtorr, Denak và vô số thần quỷ khác. Không biết lên phim thì Doctor Strange của chúng ta sẽ sở hữu sức mạnh như nào đây.
Thứ Năm, 1 tháng 8, 2019
| Pokemon | Leaf Green - 3 con chim huyền thoại (3 legendary birds)
Dạo này có nguồn cảm hứng chơi game cổ lại, một phần do em Pocket Go he he.
Chả là mình đang chơi lại game Pokemon Leaf Green, một phiên bản làm lại (trên máy Gameboy Advance) với đồ họa đẹp hơn so với bản Green hồi xưa (trên máy Gameboy Color). Leaf Green còn được gọi là Gen III.
Ảnh bìa Leaf Green phiên bản Nhật:
Ảnh nền Leaf Green phiên bản Âu/ Mỹ:
Mình sẽ có bài riêng về đội hình mạnh (theo ý kiến của mình). Còn hiện tại bài viết sau chỉ ra 3 chỗ của con chim huyền thoại (3 legendary birds).
1. Route 10 - Power Plant
Trong nhà máy điện này đa số là các Pokemon hệ điện như Pikachu, Voltorb, Magneton... Level trung bình ~22-34. A trong đây có con chim điện huyền thoại Zapdos.
2. Seaform Islands
Một số con ở các tầng đáng lưu ý (mình chỉ đề cập các con có sẵn ở phiên bản Leaf Green):
+ B1F: Slowbro, Golduck
+ B4F: Articuno
3. Mt. Ember
Nằm ở phía bắc của One island.
Nhớ lấy:
+ Fire Stone
+ Ruby
Con chim huyền thoại cuối cùng Moltres nằm ở đỉnh (Summit):
Have fun !!!
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)

























